Đổi mới nội dung phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam

Font size : A- A A+
I. NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LHPN VIỆT NAM
1. Một số khái niệm cơ bản
a. Đổi mới:
          Có nhiều quan điểm khác nhau về đổi mới. Chẳng hạn, theo từ điển tiếng Việt phổ thông: “đổi mới là thay đổi cho khác hẳn với trước, tiến bộ hơn và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”
          Có tác giả cho rằng, “đổi mới” có nghĩa là tiến hành mọi việc theo một cách thức khác, khám phá những lĩnh vực mới và chấp nhận rủi ro”
          Một định nghĩa khác lại thấy: “đổi mới” là cải cách cái lỗi thời thay vào đó, thừa kế cái tốt cũ và thêm cái mới hợp với thời đại mới (tương thích)
          Theo từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học thì đổi mới là thay đổi cho khác hẳn với trước tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ, và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển.

          Như vậy, có thể nói đổi mới là thay đổi cho khác với trước, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Đổi mới không phải là xóa bỏ hết cái củ, mà là thay đổi những cái chưa hiệu quả, chưa tốt, đồng thời giữ lại, duy trì và phát huy những cái đã tốt, đã hiệu quả. Nói chung, đổi mới là làm cho ngày càng hiệu quả hơn, tốt hơn. 

b. Nội dung hoạt động:
          Theo từ điển tiếng Việt, “nội dung” là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện.
          Theo từ điển Hán Việt, “nội” là bên trong, “dung” là chứa đựng. “Nội dung” là cái chứa bên trong hình thức, là cái thuộc bản chất của sự vật.
          Trong từ điển triết học, “nội dung” là một phạm trù triết học, chỉ toàn bộ các mặt, các yếu tố, các mối quan hệ, các quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng. Nội dung bao giờ cũng được tồn tại dưới một hình thức nhất định và là khái niệm tồn tại song song với khái niệm “hình thức”.
          Như vậy, nội dung của một sự vật là cái cần thỏa mãn 3 tiêu chí cơ bản sau:
-         Là cái bên trong, tạo nên sự vật.
-         Qui định, phản ánh bản chất của sự vật.
-         Được biểu hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định.
Vận dụng khái niệm trên chúng ta thấy, nội dung hoạt động của Hội LHPN Việt Nam là những hoạt động quy định yếu tố “bên trong”, phản ánh bản chất của Hội LHPN Việt Nam. Yếu tố phản ánh “cái bên trong, bản chất” của Hội chính là tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của Hội - một tổ chức chính trị xã hội, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ.
Từ những phân tích trên, khái niệm “nội dung hoạt động” của Hội LHPN Việt Nam được hiểu là toàn bộ những việc mà Hội LHPN Việt Nam làm để thực hiện tôn chỉ, mục đích, chức năng nhiệm vụ của Hội. Nói cách khác, nội dung hoạt động của Hội LHPN Việt Nam là những công việc mà Hội thực hiện vì sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ và mục tiêu bình đẵng giới.
c. Phương thức hoạt động
Khác với quan điểm về nội dung, nhìn chung các tác giả đều có cái nhìn tương đối thống nhất về phương thức. Từ điển Tiếng Việt, hay theo Từ điển tiếng Việt phổ thông đều định nghĩa Phương thức là cách thức và phương pháp.
Như vậy, “phương thức hoạt động” là cách thức, phương pháp tiến hành, thực hiện hoạt động. Phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam là các cách thức, phương pháp Hội LHPN Việt Nam vận dụng để thực hiện nội dung hoạt động của Hội.
Mối quan hệ giữa phương thức hoạt động và nội dung hoạt động là quan hệ biện chứng, trong đó nội dung là yếu tố cơ bản, phương thức là yếu tố quan trọng. Phương thức hoạt động tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: nội dung hoạt động, bộ máy tổ chức hiện có, trình độ cán bộ, phong cách quản lý… Không thể có phương thức hoạt động được đánh giá là tốt, nếu nội dung hoạt động không được xác định đúng đắn, trình độ năng lực cán bộ không theo kịp. Nhưng phương thức hoạt động không phù hợp sẽ tác hại không nhỏ đến nội dung hoạt động. Một nội dung có thể cần một hoặc nhiều phương thức hoạt động, ngược lại, một phương thức hoạt động có thể sử dụng cho nhiều nội dung hoạt động khác nhau.
d. Đổi mới nội dung phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
Từ khái niệm về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và dựa trên cơ sở phân tích tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, chúng ta có thể hiểu đổi mới nội dung, phương thức hoạt động là giữ lại, duy trì và phát huy những cái đã tốt, đã hiệu quả trong nội dung cũng như phương thức hoạt động; Những cái chưa hiệu quả, chưa tốt trong đó thì cần phải thay đổi, cho khác với trước, tiến bộ hơn. Nói cách khác “đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam là duy trì và phát huy những nội dung, phương thức hoạt động phù hợp, hiệu quả; thay đổi, cải tiến, những nội dung, phương thức hoạt động chưa hiệu quả, chưa phù hợp, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và đòi hỏi ngày càng cao của công tác phụ nữ, góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới”.
2. Nội dung, phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
a. Nội dung hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
Để thực hiện tôn chỉ, mục đích, chức năng nhiệm vụ, Hội LHPN Việt Nam đang triển khai một số nội dung hoạt động sau:
* Các hoạt động thực hiện vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, nâng cao quyền làm chủ cho phụ nữ, bao gồm:
- Tham gia xây dựng luật pháp chính sách
- Tư vấn pháp luật và giải quyết đơn thư
- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đánh của phụ nữ
* Các hoạt động thực hiện vai trò chăm lo lợi ích thiết thực và giải quyết những vấn đề đặt ra đối với phụ nữ, hội viên được cụ thể hóa bằng những mảng hoạt động chính sau:
- Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế
- Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc
- Các hoạt động tập hợp, tuyên truyền, giáo dục, vận động các tầng lớp phụ nữ
- Hoạt động quan hệ và hợp tác quốc tế
Những nội dung hoạt động trên (là những nhiệm vụ trọng tâm mà Hội LHPN Việt Nam đang thực hiện) sẽ được nghiên cứu chi tiết trong chương trình học.
b. Phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
- Tham mưu, đề xuất với Cấp ủy
Hội LHPN Việt Nam là một tổ chức chính trị xã hội thuộc hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực hiện phương thức tham mưu với cấp ủy Đảng các cấp vừa đảm bảo nguyên tắc Đảng “là hạt nhân lãnh đạo” công tác phụ nữ theo tinh thần Nghị quyết 11 vừa thực hiện yêu cầu quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu công tác phụ nữ trong tình hình mới nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng.
Thông qua tham mưu của Hội Phụ nữ, các cấp ủy Đảng hiểu nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ; nắm vững tình hình phong trào phụ nữ và hoạt động Hội, từ đó có những chỉ đạo sát thực tế đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp Hội hoạt động. Muốn vậy, Hội cần tập trung tham mưu để cấp ủy Đảng quán triệt thực hiện tốt chủ trương, quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới, ban hành các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết về /liên quan công tác phụ nữ và bình đẳng giới; chỉ đạo các ban ngành liên quan và huy động đảng viên tham gia công tác phụ nữ… Thực hiện vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ, các cấp Hội cũng cần tham mưu cho cấp ủy Đảng về công tác cán bộ nữ, đây là nội dung quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ nữ nói chung, cán bộ Hội nói riêng đáp ứng yêu cầu mới.
Thực hiện phương thức này, yêu cầu Hội phụ nữ các cấp xây dựng định kỳ kế hoạch làm việc với cấp ủy hoặc kịp thời báo cáo những vấn đề lớn, đột xuất; chuẩn bị nội dung báo cáo tình hình phong trào phụ nữ và hoạt động Hội, đề xuất những vấn đề cần giải quyết và xin ý kiến chỉ đạo. Đây là cơ hội để Hội phụ nữ lĩnh hội ý kiến đánh giá của Đảng và những chủ trương, định hướng lớn cho hoạt động Hội. Để tham mưu có hiệu quả, Hội các cấp cần tranh thủ sự ủng hội của đội ngũ cấp ủy phụ trách các ngành có liên quan; chuẩn bị căn cứ khoa học liên quan vấn đề cần đề xuất. Bên cạnh đó, cán bộ Hội khi làm việc với cấp ủy cần chủ động, tự tin, kiên trì thuyết phục.
- Phối hợp với chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể
Phối hợp với chính quyền và các ngành nhằm mục đích xã hội hóa công tác phụ nữ đồng thời cũng nhằm thực hiện nhiệm vụ của Hội trong những lĩnh vực có liên quan (chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ; hỗ trợp phụ nữ xây dựng gia đình; giám sát việc thực hiện luật pháp chính sách có liên quan đến phụ nữ, trẻ em…). Hiện nay, hệ thống hành lang pháp lý quy định tương đối rõ ràng về cơ chế, nội dung phối hợp giữa Hội Phụ nữ với chính quyền và các ban ngành, đoàn thể.
Để thực hiện phương thức phối hợp có hiệu quả, Hội LHPN cần xây dựng mối quan hệ công tác với chính quyền, các cơ quan Nhà nước trên nguyên tắc phối hợp, tạo điều kiện thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đồng thời phát huy tính độc lập, năng động sáng tạo của Hội LHPN. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Hội những định hướng hoạt động của Hội cấp trên và khả năng thực tế của Hội cấp mình đồng thời Hội cũng cần nắm vằng chức năng nhiệm vụ của các ngành để xác định nội dung, cách thức, mức độ, phạm vi, phân định trách nhiệm phối hợp. Đây là yêu cầu bắt buộc trong phối hợp đảm bảo hoạt động của Hội không chồng chéo, “lấn sân” với các ngành khác cũng như tránh sự bị động, phụ thuộc của Hội. Thông qua phối hợp, Hội cùng với các ngành thực hiện hoạt động có liên quan đến công tác phụ nữ và bình đẳng giới theo nguyên tắc cả 2 bên cùng có lợi ích, thực hiện nhiệm vụ chính trị chung; hợp tác vì sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ.
Hội phối hợp với chính quyền, các ngành, đoàn thể cùng cấp theo phương thức hợp đồng trách nhiệm, hợp đồng ủy thác, tham gia một phần trong chương trình mục tiêu, xây dựng và triển khai các đề án… Hoạt động phối hợp được thực hiện với nhiều ngành trên nhiều lĩnh vực: với ngành Tư pháp trong phổ biến giáo dục pháp luật, với Y tế trong chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, với Ngân hàng để khai thác vốn vay, với ngành Nông nghiệp để chuyển giao khoa học kỹ thuật… Thông qua phối hợp với  chính quyền các cấp và các ban ngành chức năng, Hội có điều kiện thuận lợi hơn trong việc vận động phụ nữ thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và tổ chức các hoạt động đại diện, chăm lo cho phụ nữ theo chức năng.
- Chỉ đạo, hướng dẫn trong hệ thống Hội
Hội LHPN Việt Nam được tổ chức theo 4 cấp: trung ương, tỉnh/thành, quận/huyện và cơ sở. Mọi hoạt động của Hội cần được chỉ đạo, thực hiện nhịp nhàng, thông suốt theo 2 chiều từ trung ương xuống cơ sở và ngược lại từ cơ sở lên trung ương. Trong mối quan hệ đó, trung ương định hướng chủ trương, nhiệm vụ lớn từ đó chỉ đạo, hướng dẫn để Hội phụ nữ các cấp từ tỉnh đến cơ sở chủ động tổ chức thực hiện các hoạt động, tránh tình trạng thụ động, ỷ lại. Trung ương nhận thông tin phản hồi, nghiên cứu tổng kết rút kinh nghiệm, khái quát rút ra bài học để tiếp tục có định hướng mới chỉ đạo phong trào. Các cấp Hội địa phương nghiên cứu kỹ định hướng của trung ương, trên cơ sở điều kiện cụ thể của địa phương đề ra cách làm phù hợp, báo cáo lên cấp trên, cách làm, hiệu quả và bài học kinh nghiệm. Trong quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động, Hội phụ nữ cấp dưới phản ánh, phản hồi những vấn đề nảy sinh, từ đó đề xuất để cấp trên điều khiển, điều chỉnh chủ trương cho phù hợp. Như vậy, có thể nói, trong nội bộ hệ thống Hội, mối quan hệ các cấp Hội là quan hệ chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên đối với cấp dưới và quan hệ phản hồi, đề xuất của cấp dưới đối với cấp trên.
Hội LHPN Việt Nam thực hiện chỉ đạo trong hệ thống Hội theo những cách thức sau:
+ Xây dựng các mô hình hoạt động lồng ghép: các mô hình được xây dựng theo lứa tuổi, sở thích, nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu của các nhóm phụ nữ khác nhau. Các mô hình này vừa đem lại lợi ích thiết thực cho phụ nữ vừa là nơi để Hội tuyên truyền, giáo dục, vận động phụ nữ thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương và nhiệm vụ của Hội.
+ Chỉ đạo điểm: là việc làm trước, làm mẫu, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm nhân diện rộng. Có thể chọn điểm chỉ đạo toàn diện hoặc chọn theo chuyên đề, chương trình hoạt động.
+ Chỉ đạo theo các chương trình trọng tâm: là những định hướng lớn được Trung ương xác định. Từ định hướng đó, địa phương cụ thể hóa các nội dung hoạt động từng thời điểm và đặc điểm cụ thể.
+ Tổ chức các phong trào thi đua, các cuộc vận động: trong mỗi giai đoạn, Hội phát động những phong trào thi đua, các cuộc vận động xuống tận cơ sở. Hàng năm cơ sở thảo luận, đăng ký, bình xét, đánh giá.
- Vận động xã hội
Có thể coi đây là một phương thức hoạt động mới hình thành trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm của hơn 25 năm đổi mới và từ những thành công ban đầu trong việc phát huy nội lực của phụ nữ và huy động các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tham gia vào việc chăm lo đời sống, vật chất, tinh thần, giải quyết các vấn đề liên quan tới phụ nữ. Phương thức hoạt động này là sự cụ thể hóa, hiện thực hóa sự huy động các lực lượng xã hội còn lại (ngoài tổ chức Đảng, chính quyền và các ban ngành đoàn thể trong hệ thống chính trị) tham gia vào công tác phụ nữ theo tinh thần Nghị quyết 11 “công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình”.
Phát huy nội lực để chủ động giải quyết những vấn đề đặt ra đối với phụ nữ là phẩm chất của phụ nữ Việt Nam, là trách nhiệm của Hội Phụ nữ cũng như là yêu cầu quan trọng của công tác phụ nữ trong tình hình hiện nay. Việc phát huy nội lực được thực hiện thường xuyên trong từng chi tổ phụ nữ thông qua các hình thức đa dạng, phong phú, thiết thực: phong trào thi đua (giúp nhau phát triển kinh tế, ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo…), cuộc vận động (mái ấm tình thương), các hoạt động cụ thể (phụ nữ giúp nhau ngày công, giống, vốn, giúp nhau trong thiên tai, lũ lụt..).
Nhờ sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ, trong những năm gần đây, việc liên kết với các doanh nghiệp trở thành một xu hướng mới trong phương thức hoạt động của Hội LHPN các cấp. Các hoạt động cụ thể có thể tính đến là: giới thiệu việc làm, bao tiêu sản phẩm, dạy nghề, tổ chức các sự kiện cho phụ nữ…Bên cạnh đó Hội cũng có thể vận động các tổ chức, cá nhân tham gia công tác phụ nữ. Đặc biệt, hiện nay, có rất nhiều tổ chức phi chính phủ có cùng mục đích, đối tượng hoạt động với Hội, đó là những tổ chức hoạt động cho phụ nữ hoặc vì mục tiêu bình đẳng giới. Việc liên kết, huy động sự tham gia của các tổ chức này trong công tác phụ nữ sẽ giúp Hội có thêm nguồn lực để hoạt động.
Dựa vào những quy định của pháp luật, các cấp Hội chủ động vận động các nguồn lực xã hội để góp phần xã hội hóa công tác phụ nữ, tăng hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ, tài chính… cho hoạt động của Hội.
II. ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LHPN CƠ SỞ
1. Sự cần thiết đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
a. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể là quan điểm, chủ trương của Đảng ta trước tình hình mới
       Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, quan điểm về đổi mới công tác quần chúng, công tác mặt trận được thể hiện rất rõ trong Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, Chỉ thị, Nghị quyết của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
       Nghị quyết hội nghị lần thứ tám BCH Trung ương Đảng khóa VI (Nghị quyết 8b) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Đảng ta chỉ rõ “Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân”.
Đồng thời, Nghị quyết 8b/NQ – HNTW cũng xác định: các đoàn thể ở cơ sơ cần “coi trọng việc tập hợp quần chúng bằng những hình thức linh hoạt, hoạt động theo những nội dung thích hợp. Đảng cần hướng dẫn sự đổi mới nội dung hoạt động của các đoàn thể và tổ chức quần chúng vào việc đoàn kết đoàn viên, hội viên cùng nhau chăm lo lợi ích thiết thực của mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước, xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng”.
Chỉ thị số 62/CT-TW ngày 25/6/1990 của Ban Bí thư về thực hiện Nghị quyết 8b cũng đã nêu rõ: các đoàn thể quần chúng ở cơ sở định rõ chức năng, cải tiến phương thức hoạt động, đề ra nhiệm vụ của tổ chức mình để đem lại lợi ích thiết thực cho đoàn viên, hội viên.
Các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc (lần thứ VII, VIII, IX, X, XI) đều xác định Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng/đoàn thể nhân dân cần đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, thu hút đông đảo nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham gia với Đảng và Nhà nước thực hiện và giám sát thực hiện dân chủ, chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; bảo vệ Đảng và chính quyền; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đặc biệt, Nghị quyết 04/NQ-TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới đã xác định yêu cầu đổi mới nội dung tổ chức và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam là: đa dạng hóa các hình thức tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của Hội theo lứa tuổi, ngành nghề, sở thích, vùng, miền, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, hướng dẫn các tầng lớp phụ nữ hoạt động theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh. Ngày 29/9/1993, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 28/CT-TW giao nhiệm vụ cho Đảng đoàn Hội LHPN Việt Nam giúp Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo phong trào Phụ nữ, đổi mới nội dung, tổ chức và phương thức hoạt động của Hội LHPN.
Để đáp ứng yêu cầu của công tác phụ nữ trong tình hình mới, ngày 27/4/2007 Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nghị quyết khẳng định, các cấp Hội LHPN Việt Nam cần: 1) Khắc phục tình trạng “hành chính hóa”; 2) Hướng mạnh hoạt động về cơ sở, khu dân cư; 3) Chăm lo thiết thực quyền lợi chính đáng, hợp pháp cho hội viên, không phô trương, hình thức, không chạy theo thành tích; 4) Phát huy vai trò chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước về chủ trương, chính sách liên quan đến phụ nữ; 5) Thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội; tham gia đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; 6) Mỡ rộng tính liên hiệp, tập hợp rộng rãi các đối tượng là phụ nữ trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện; 7) Đa dạng hóa các hình thức tập hợp để phát triển hội viên trong các lĩnh vực. Có hình thức phù hợp động viên phụ nữ Việt Nam định cư ở nước ngoài đoàn kết, phát triển, hướng về Tổ quốc.
          b. Yêu cầu của thời kỳ mới đòi hỏi Hội LHPN Việt Nam phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động.
          Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, đời sống của đại bộ phận nhân dân rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thiếu ăn, nhiều tệ nạn xã hội mới phát sinh, một bộ phận dân chúng sa sút niềm tin, có lối sống thực dụng, các thế lực thù địch trong nước luôn tìm cơ hội chống phá cách mạng nước ta... Trước những khó khăn, thách thức đó, Đảng ta đã chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, trong đó xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
          Đồng thời với những biến đổi của tình hình trong nước, tình hình quốc tế cũng có nhiều biến động; chiến tranh lạnh kết thúc, hòa bình, hợp tác, phát triển là xu thế chung của các quốc gia, dân tộc; diễn đàn đa phương ngày càng đóng vai trò quan trọng; quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc mang tính chất vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Bên cạnh đó, mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, “âm mưu diễn biến hòa bình” của các nước đế quốc lớn, khoảng cách giàu nghèo, cạnh tranh kinh tế, khoa học công nghệ... ngày càng phức tạp, gay gắt hơn.
          Trước những biến đổi mạnh mẽ của tình hình trong nước và quốc tế, để phát huy vai trò, sự đóng góp của các tầng lớp phụ nữ mà Hội LHPN các cấp làm nòng cốt, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vào sự nghiệp đổi mới của đất nước, đồng thời thực hiện tốt hơn chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ, việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam là yêu cầu tất yếu.
          c. Nhu cầu, nguyện vọng của phụ nữ và những khó khăn, hạn chế của phong trào phụ nữ đòi hỏi Hội LHPN phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động
          Với hoàn cảnh của đất nước ở thập niên 1980, đời sống của các tầng lớp phụ nữ cũng rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn: một bộ phận đáng kể phụ nữ không có hoặc không đủ việc làm, thu nhập thấp, nhiều chị em phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, sức khỏe giảm sút; bị phân biệt đối xử, là nạn nhân của các tệ nạn xã hội như: mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, mê tín, dị đoan... một bộ phận phụ nữ giảm sút lòng tin, sa vào lối sống thực dụng... Chính vì thế, nhu cầu cấp thiết của đa số phụ nữ lúc đó chính là nhu cầu có việc làm với mức thu nhập ổn định, nhu cầu chăm sóc sức khỏe... Cùng với bước tiến của quá trình đổi mới, nhu cầu của phụ nữ cũng không ngừng phát triển: nhu cầu việc làm với mức thu nhập tăng, nhu cầu học nghề, tạo việc làm, có thu nhập, có tích lũy, thành đạt trong nghề nghiệp... nhu cầu được nâng cao trình độ, nâng cao nhận thức, nâng cao đời sống tinh thần, nhu cầu được giao lưu văn hóa, nhu cầu du lịch, làm đẹp, thể dục thể thao, tín ngưỡng tôn giáo, tham gia các hoạt động xã hội...
          Trước tình hình đó, phong trào phụ nữ và các hoạt động Hội phụ nữ đã gặp không ít khó khăn, thách thức. Phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ tổ quốc” được triển khai từ sau khi đất nước được thống nhất về nhiều mặt đã không còn phù hợp; các hoạt động Hội chủ yếu chỉ mới tập trung huy động, vận động lực lượng phụ nữ thực hiện các nghĩa vụ với xã hội, với đất nước; việc tuyên truyền giáo dục tập trung nhiều vào nâng cao nhận thức về truyền thống cách mạng, cuộc đấu tranh giữa hai con đường CNXH và CNTB; mới chỉ chú trọng động viên phụ nữ vượt khó khăn thực hiện nghĩa vụ người công dân, người vợ, người mẹ... mà chưa quan tâm chăm lo lợi ích thiết thực cho phụ nữ (nâng cao đời sống vật chất, tạo việc làm...), phát huy quyền làm chủ và nâng cao trình độ của phụ nữ; trong tư tưởng chỉ đạo, có nơi, có lúc còn thỏa mãn về thành tựu giải phóng phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu, nội dung giải phóng phụ nữ về kinh tế - xã hội; một số cấp ủy Đảng vẫn coi công tác phụ nữ là việc riêng của Hội LHPN.
          Để phát huy vai trò của tổ chức Hội trong vận động, tập hợp các tầng lớp phụ nữ tích cực tham gia công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, chăm lo đến lợi ích thiết thân của phụ nữ và từng bước đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ, các cấp Hội LHPN nhất thiết phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động.
          2. Đổi mới nội dung hoạt động của Hội LHPN cơ sở
          Phát huy những thành công cơ bản, khắc phục những bất cập/hạn chế, việc đổi mới nội dung hoạt động của Hội cơ sở cần tập trung vào những vấn đề sau:
          a. Đổi mới các hoạt động thực hiện vai trò đại diện tham gia xây dựng luật pháp chính sách, bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng cho phụ nữ
          - Nâng cao chất lượng hoạt động tham gia, xây dựng luật pháp, chính sách liên quan tới quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ
          Hiện nay chất lượng tham mưu chiến lược, đề xuất, tham gia xây dựng luật pháp chính sách của các cấp Hội còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở cấp cơ sở. Một số lĩnh vực đặc thù mà Hội cơ sở cần quan tâm tham mưu đề xuất chính sách, như công tác cán bộ nữ, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp cho phụ nữ; tiếp cận các nguồn vốn, làm kinh tế gia đình, tăng thu nhập; chính sách hỗ trợ các nhóm phụ nữ yếu thế (phụ nữ cao tuổi, đơn thân, tàn tật, nhưng người có hoàn cảnh thiệt thòi, tổn thương trong xã hội...)
          - Công tác giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho phụ nữ: tiếp tục lựa chọn chính sách an sinh xã hội liên quan mật thiết đến đời sống phụ nữ để giám sát, tập trung vào các chính sách đối với 62 huyện nghèo; việc làm đối với lao động nữ; hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số; trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, giám sát việc thực hiện các chính sách cho vay qua Ngân hàng Chính sách Xã hội... Kịp thời phát hiện vấn đề; kiên quyết đấu tranh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ; vận động đồng thời tạo điều kiện để phụ nữ tham gia thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở một cách thực chất. Đây là nhiệm vụ khó, đòi hỏi cán bộ Hội phải nắm bắt kịp thời, đầy đủ các văn bản, chính sách pháp luật, phải sâu sát cơ sở để tìm hiểu thực tế chính sách đã được thực hiện ở mức độ nào, còn nội dung nào vi phạm để kiến nghị, đề xuất. Giám sát tốt sẽ là cơ sở để cán bộ Hội mạnh dạn, có bản lĩnh để phản biện. Khắc phục tình trạng Hội LHPN cơ sở có tên trong nhiều hội đồng, nhiều ban ở địa phương, nhưng những kiến nghị, đề xuất còn ít hoặc chưa được tiếp thu do chất lượng tham gia, chất lượng phản biện chưa đạt yêu cầu.
          - Nâng cao chất lượng công tác tư vấn pháp luật, giải quyết đơn thư về các lĩnh vực hôn nhân gia đình, tranh chấp đất đai, chế độ chính sách... đối với phụ nữ; kịp thời nắm bắt thông tin, phản ánh và phối hợp với các ngành chức năng tham gia giải quyết đối với các vụ kiện đông người, có tính chất phức tạp. Tham gia có hiệu quả, trách nhiệm cao trong các tổ hòa giải cơ sở, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ.
          b. Đổi mới các hoạt động chăm lo lợi ích thiết thực cho phụ nữ
          - Hoạt động tuyên truyền, giáo dục, vận động phụ nữ cần đổi mới trong việc đa dạng hóa nội dung tuyên truyền, xây dựng mạng lưới công tác viên, tuyên truyền viên đến các thôn bản. Đồng thời xây dựng các mô hình can thiệp, hỗ trợ cộng đồng... nâng cao nhận thức về phòng chống buôn bán, phụ nữ, trẻ em; các mô hình CLB đồng cảm, sức khỏe...
          Kịp thời, thường xuyên nắm bắt dư luận xã hội và tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ để phản ánh với các cấp ủy Đảng, chính quyền, góp phần hạn chế tình trạng phụ nữ tham gia khiếu kiện đông người ở các địa phương. Quan tâm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức cho phụ nữ, lồng ghép tuyên truyền giáo dục giác ngộ chính trị với chăm lo lợi ích của hội viên, phụ nữ.
          Tăng cường tuyên truyền giáo dục đồng thời hướng dẫn phụ nữ thực hiện luật pháp, chính sách. Đa dạng hóa nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục, khai thác các hình thức hiệu quả như truyền thông nhóm nhỏ, tư vấn; cập nhật thông tin đầy đủ, kịp thời.
          - Tiếp tục phát huy hiệu quả công tác hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế: cần tiếp tục thực hiện các hoạt động xóa đói giảm nghèo bền vững, dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia, với đề án về dạy nghề của Hội; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; phát triển các loại hình tín dụng cho phụ nữ...
          Tiếp tục tổ chức các hoạt động, mô hình. Trong thời gian qua, đây là nội dung mang tính đột phá, đóng vai trò mũi nhọn trong công tác Hội tại các địa phương, là động lực trực tiếp thúc đẩy phong trào phụ nữ (ở một số địa phương khi nhiều hình thức tổ chức hoạt động chưa thực sự hấp dẫn phụ nữ thì vay tín chấp qua Hội đã trở thành “động cơ” đối với chị em đến sinh hoạt Hội). Đẩy mạnh hoạt động tài chính vi mô của hội.
          Hoạt động Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cần đổi mới theo hướng đáp ứng nhu cầu vay vốn và nâng cao kiến thức để làm giàu, phát triển kinh tế bền vững cho phụ nữ (về món vay, lãi suất và thời hạn vay và cách thức trả lãi và gốc)..., tập trung khai thác được các hoạt động dạy nghề, tạo việc làm mang tính chiến lược (những nghề có chuyên môn cao, có thu nhập cao), giúp cho phụ nữ có một nghề ổn định, lâu dài.
          - Triển khai các hoạt động hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc lồng ghép chặt chẽ trong thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, gắn với Cuộc vận động “Xây dựng gia đình văn hóa”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
          Phát huy hiệu quả các mô hình tổ, nhóm, câu lạc bộ “Gia đình không có người thân phạm tội và mắc tệ nạn xã hội”, “Phòng chống ma túy từ gia đình”, “Gia đình không có con bỏ học”, “Gia đình không sinh con thứ 3”... Đẩy mạnh hoạt động nhân đạo từ thiện, làm tốt công tác hậu phương quân đội, quan tâm, chăm lo các gia đình chính sách và tích cực hỗ trợ nhân đạo đối với người nghèo, khó khăn, những người bị ảnh hưởng của thiên tai.
          Hội cơ sở cần kịp thời, chủ động và có biện pháp hiệu quả để giải quyết một số vấn đề tiêu cực, gây bức xúc trong dư luận liên quan đến nhân phẩm phụ nữ (bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ, môi giới bất hợp pháp trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài...), bảo vệ lợi ích của phụ nữ. Chú trọng công tác giáo dục gia đình, giáo dục bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình, quan tâm tới nam giới trong lĩnh vực này.
          Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc phù hợp các nhóm đối tượng, độ tuổi khác nhau và cần vận động cả nam giới tham gia để tiêu chí về xây dựng gia đình được thực hiện bền vững. Tăng cường giáo dục kỹ năng sống, hướng dẫn phụ nữ tổ chức cuộc sống gia đình, xây dựng các mối quan hệ giao tiếp, ứng xử...; chú ý đối tượng nam giới trong phòng chống bạo lực gia đình. Nâng cao nhận thức xã hội, cộng đồng, gia đình về vấn đề xây dựng gia đình hạnh phúc, phát triển bền vững. Tổ chức các hoạt động hỗ trợ tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt vai trò nòng cốt xây dựng gia đình, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng gia đình “5 không 3 sạch”.
          - Công tác đối ngoại nhân dân: cần tập trung nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên, phụ nữ về công tác đối ngoại nhân dân; hướng dẫn việc thực hiện nhiệm vụ đối ngoại phù hợp với từng địa bàn đặc thù.
          Như vậy, có thể thấy, nội dung hoạt động của Hội cần được đổi mới theo hướng ngày đáp ứng một cách thiết thực và hiệu quả nhu cầu của các tầng lớp phụ nữ; lồng ghép tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, vận động nâng cao kiến thức, năng lực về mọi mặt cho phụ nữ; qua đó tạo điều kiện nâng cao vai trò, địa vị của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội; đồng thời động viên, huy động phụ nữ tham gia tích cực, hiệu quả vào các chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
          3. Đổi mới phương thức hoạt động
          a. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu với cấp ủy về các vấn đề liên quan đến công tác phụ nữ và bình đẳng giới
          - Cán bộ Hội cấp cơ sở cần nâng cao năng lực nghiên cứu phát hiện vấn đề, phân tích tổng hợp; kỹ năng đề xuất tham mưu. Các ý kiến tham mưu của Hội Phụ nữ cần được thể hiện bằng văn bản chính thức. Trước khi tham mưu, đề xuất, cán bộ Hội phụ nữ cấp xã phải thu thập thông tin, luận cứ xác đáng từ nhân dân, từ các chi hội phụ nữ nên những tham mưu đề xuất đảm bảo tính thực tiễn, phản ánh được tâm tư nguyện vọng của người dân, của phụ nữ và có tính thuyết phục.
          b. Mở rộng, đa dạng hóa hoạt động phối hợp với chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể để thực hiện nhiệm vụ chính trị của Hội.
          Một số chương trình phối hợp đạt được hiệu quả cao, có ý nghĩa xã hội sâu sắc, tiêu biểu như: phối hợp với ngành giáo dục thực hiện phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; đẩy mạnh xóa mù chữ cho phụ nữ, ưu tiên cán bộ Hội, cán bộ nữ cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa; chương trình thực hiện Nghị quyết liên tịch với Bộ Công an về “Quản lý giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội”; phối hợp ngành Tư pháp để tổ chức tư vấn pháp luật lưu động giúp cho nhiều hội viên, phụ nữ được tiếp cận với hoạt động tư vấn; chương trình phối hợp với ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông quốc gia chuyển giao khoa học kỹ thuật cho hội viên, phụ nữ thông qua tổ chức tập huấn, xây dựng mô hình (trồng lúa cao sản, nuôi bò, lợn...), góp phần thực hiện tốt xóa đói giảm nghèo...
          Các cấp Hội cơ sở cần lựa chọn chương trình ưu tiên thực sự sát hợp với chức năng, nhiệm vụ chính trị của Hội, phù hợp với đặc điểm vùng miền, địa phương, đáp ứng nhu cầu phụ nữ. Trong từng chương trình/nội dung/hoạt động phối hợp, cần xác định mức độ, phạm vi tham gia và phân định trách nhiệm rõ ràng. Nội dung phối hợp ở từng địa bàn là khác nhau. Tránh ôm đồm, làm thay việc của các bên liên quan. Thực tiễn cho thấy, một bộ phận cán bộ Hội không đủ kiến thức, bản lĩnh để lựa chọn ưu tiên trong các chương trình phối hợp từ đó dẫn đến quá tải trong công việc. Phối hợp là cần thiết nhưng phải có cơ chế, có phân công trách nhiệm rõ ràng,định kỳ đánh giá, rút kinh nghiệm.
          c. Trong tổ chức thực hiện các hoạt động của Hội
          - Xác định, lựa chọn ưu tiên trong hoạt động hội: Đây được coi là một trong những giải pháp trọng tâm trong thực hiện các hoạt động hiện nay của Hội. Trên cơ sở những định hướng, chủ trương của Hội cấp trên, Hội phụ nữ cơ sở chủ động, sáng tạo, cụ thể hóa xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể của từng địa phương, tuyệt đối tránh áp đặt từ Hội cấp trên đồng thời tránh ỷ lại, trông chờ từ cấp dưới. Nâng cao năng lực, tính độc lập, tự chủ của Hội LHPN cấp cơ sở.
          Các nội dung hoạt động của Hội hiện nay đều được đánh giá là thiết thực, hiệu quả. Ở tầm vĩ mô, các hoạt động này tương đối toàn diện, đa dạng. Tuy nhiên, các địa phương cần căn cứ điều kiện, hoàn cảnh địa phương để chủ động, mạnh dạn lựa chọn trọng tâm, trọng điểm trong từng hoạt động, theo từng giai đoạn; ưu tiên những nội dung hoạt động đáp ứng nhu cầu của các nhóm phự nữ.
          Trong từng nhiệm vụ/lĩnh vực hoạt động, Hội phụ nữ cơ sở cũng có thể xác định, lựa chọn những hoạt động ưu tiên cụ thể. Như vậy sẽ tránh được tình trạng dàn trải các hoạt động, dàn trải nguồn lực, gây quá tải công việc Hội, tránh được bệnh máy móc, rập khuôn, chạy theo thành tích, nặng về số lượng hoạt động được triển khai mà khôn coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững, thiết thực của hoạt động đó.
          - Kế thừa, phát huy thành công những nhiệm kỳ trước, Hội cơ sở tiếp tục chọn điểm chỉ đạo, xây dựng các mô hình phù hợp đặc thù của địa phương. Ví dụ: mô hình “Kết nghĩa giữa chi hội phụ nữ người Kinh với chi hội phụ nữ đồng bào dân tộc” ở Đắc Lắc; mô hình “hoạt động nhóm hội viên nồng cốt” ở An Giang; mô hình “xóa hộ trắng hội viên” ở Long An; bí thư thôn cùng tham gia điều hành sinh hoạt chi hội phụ nữ vùng cao ở Lào Cai, mô hình CLB nữ thanh niên nhà trọ, mô hình CLB nữ chủ nhà trọ, tổ chức dịch vụ giúp việc gia đình ở TP Hồ Chí Minh... Tỉnh Quảng Bình có các mô hình: kết nghĩa, giúp nhau giữa chi hội vững mạnh giúp chi hội yếu; chi hội phụ nữ đồng bằng giúp chi hội phụ nữ dân tộc (Bố Trạch), mô hình dịch vụ gia đình…
          Tổ chức các mô hình hoạt động theo các nhóm gắn với nội dung phát triển kinh tế (nhóm phụ nữ tín dụng tiết kiệm, nhóm vay vốn, CLB doanh nghiệp...); gắn với xây dựng gia đình và các vấn đề xã hội (CLB gia đình hạnh phúc, CLB những người không sinh con thứ 3, CLB những người mẹ trẻ, CLB đồng cảm, CLB phụ nữ với pháp luật...) hoặc mô hình hoạt động theo tính chất nghề nghiệp, sở thích, lứa tuổi (CLB văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao; CLB nữ đơn thân...). Các mô hình hoạt động trên không chỉ đáp ứng nhu cầu của các nhóm phụ nữ mà thông qua đó Hội còn tuyên truyền, vận động phụ nữ, hội viên thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương và các nội dung công tác Hội.
          - Hội cơ sở cần mạnh dạn xây dựng các đề án để có thể thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Thông qua cách thức hoạt động này, Hội sẽ chủ động hơn trong việc tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; lựa chọn ưu tiên, khắc phục sự ôm đồm, dàn trải; chủ động về nguồn lực cũng như huy động được sự tham gia có trách nhiệm của các bộ, ngành chức năng; nâng cao năng lực cho cán bộ Hội.
          - Thông qua sự chỉ đạo của cấp trên, Hội cơ sở mạnh dạn phát triển các mô hình dịch vụ xã hội hoạt động theo quy định pháp luật nhằm phục vụ nhu cầu của PN, gia đình, xã hội, hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Hội, tạo nguồn thu hợp pháp, tăng thêm kinh phí hoạt động và chăm lo cho cán bộ Hội. Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ xã hội: dịch vụ tài chính vi mô; dịch vụ hỗ trợ chăm sóc gia đình; dịch vụ tư vấn, dịch vụ giới thiệu việc làm...
          - Khắc phục tình trạng hành chính hóa, phô trương, hình thức trong hoạt động:
          Thực tế cho thấy nhiều hoạt động ở cơ sở còn mang tính hình thức, không hiệu quả; còn nhiều biểu hiện hành chính hóa trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động, chỉ đạo hoạt động đa số bằng công văn, ít hướng dẫn cụ thể (ví dụ: cấp xã phát hành công văn xuống chi, tổ về việc triển khai các hoạt động, các chi, tổ phải lưu giữ nhiều loại công văn, giấy tờ và sổ sách); thời gian hội họp của cán bộ Hội cơ sở quá nhiều. Cán bộ Hội cấp xã chưa xây dựng kế hoạch và chưa chủ động xuống các chi hội, còn phụ thuộc vào kế hoạch chung của cấp ủy dẫn đến việc nắm bắt nhu cầu của các chị em và hướng dẫn hoạt động cho cơ sở hạn chế. Trong chỉ đạo còn biểu hiện hình thức, rập khuôn theo chỉ tiêu của Hội cấp trên, chưa cụ thể hóa và chưa gắn với yêu cầu, tình hình thực tiễn của địa phương.
          Hội phụ nữ cấp cơ sở cần triệt để khắc phục những hạn chế trên để nâng cao hiệu quả công tác phụ nữ, đáp ứng nhu cầu của tầng lớp phụ nữ.
          - Coi trọng phát huy nội lực và vận động xã hội để chăm lo, hỗ trợ cho phụ nữ, tăng cường các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, huy động các lực lượng xã hội tham gia hỗ trợ phụ nữ. Tiếp tục cuộc vận động ủng hộ xây dựng “Mái ấm tình thương”, làm tốt công tác vận động xã hội hỗ trợ phụ nữ và trẻ em thiệt thòi, tôn tạo di tích lịch sử, hướng về biên giới biển đảo...

     Bên cạnh việc tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cần tăng cường đổi mới về tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ Hội; thực hiện ngày càng tốt hơn tôn chỉ mục đích, chức năng nhiệm vụ của Hội. Đây được coi là điều kiện quan trọng trực tiếp quyết định đến sự thành công hay thất bại của đổi mới nội dung phương thức hoạt động. 

More

 

 

 

Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

124 người đã tham gia bình chọn