Thực hiện công tác kiểm tra và giải quyết khiếu nại tố cáo thi hành kỷ luật trong hệ thống Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

Font size : A- A A+
 I. Mục đích công tác kiểm tra của Hội
1. Phát hiện những việc làm tốt, những mô hình hiệu quả để kịp thời động viên, khuyến khích, biểu dương, tuyên truyền, khen thưởng, nhân điển hình;
2. Phát hiện những hạn chế, thiếu sót, vi phạm để kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý; kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, kế hoạch, quy định của tổ chức Hội.
3. Nâng cao chất lượng cán bộ Hội và chất lượng hoạt động Hội.

II. Về tổ chức bộ máy
1. Cấp TW:Thành lập Phòng Kiểm tra thuộc Ban Tổ chức.
2. Cấp Tỉnh:Ban Tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh, thành là Ban đầu mối tham mưu cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ thực hiện công tác kiểm tra.Phân công 01 đồng chí Thường trực Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, thành phụ trách công tác kiểm tra.
3. Cấp Huyện: Phân công 01 đồng chí lãnh đạo chủ chốt phụ trách, 01 đồng chí cán bộ chuyên trách tham mưu.
4. Cấp cơ sở: Chủ tịch Hội phụ trách, Phó Chủ tịch hoặc UVBTV tham mưu.
 
Chức năng của bộ máy này làtham mưu cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của Hội và xử lý kỷ luật theo quy định của Điều lệ Hội.
Lãnh đạo công tác kiểm tra: Ban chấp hành Hội LHPN các cấp
Thực hiện công tác kiểm tra: BCH, BTV Hội LHPN các cấp, ĐCT TW Hội LHPNVN, các Ban tham mưu giúp việc cho BCH, BTV/ĐCT.
 
III. Nhiệm vụ công tác kiểm tra của các cấp Hội
1. Tham mưu cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác kiểm tra.
2. Tổ chức các đoàn kiểm tra, đánh giá về các nội dung thuộc lĩnh vực Ban Tổ chức phụ trách: chấp hành Điều lệ Hội, các quy định của tổ chức Hội, hội phí, quỹ hội; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý kỷ luật thuộc phạm vi thẩm quyền của tổ chức Hội.
3. Tham mưu giúp Ban chấp hành, Ban Thường vụ kết luận các nội dung kiểm tra thuộc lĩnh vực được phân công.
4. Tham mưu và giải quyết các khiếu nại, tố cáo, xử lý kỷ luật thuộc phạm vi thẩm quyền của tổ chức Hội.
5. Đầu mối tham mưu và tổng hợp các ý kiến góp ý sửa đổi, bổ sung Điều lệ Hội và Hướng dẫn thực hiện Điều lệ.
6. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp (cấp TW tổ chức cho cấp Tỉnh; cấp Tỉnh tổ chức cho cấp huyện; cấp Huyện tổ chức tập huấn cấp xã).
7. Thực hiện chế độ báo cáo công tác kiểm tra cho Ban Chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ cùng cấp và cấp trên trực tiếp theo định kỳ (1 năm/1 lần). Chủ động báo cáo đột xuất khi có đơn thư hoặc vấn đề nổi cộm liên quan đến công tác kiểm tra tại địa bàn. Thực hiện công tác sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng về công tác kiểm tra.
 
IV. Các nội dung tập trung khi thực hiện công tác kiểm tra
1. Việc chấp hành Điều lệ Hội.
Trọng tâm là kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc và tổ chức hoạt động của BCH, BTV, chức danh Chủ tịch Hội, Phó chủ tịch Hội và nhiệm vụ của chi hội trưởng, tổ trưởng phụ nữ cơ sở;
 
2. Việc thực hiện Nghị quyết và các quy định của tổ chức Hội các cấp
- Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Hội;
- Việc thực hiện nguyên tắc, tổ chức hoạt động của tổ chức Hội;
- Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội và Nghị quyết BCH Hội các cấp, NQ chuyên đề;
- Thực hiện các đợt thi đua đặc biệt;
- Việc xây dựng và củng cố tổ chức Hội LHPN cấp cơ sở.
- Công tác phát triển, thu hút, quản lý và sinh hoạt hội viên;
- Việc thu, nộp và sử dụng hội phí;
- Việc xây dựng và thực hiện các quy định, quy chế về sử dụng quỹ hội và các nguồn thu hợp pháp khác;
- Việc thực hiện công tác kiểm tra; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, thi hành kỷ luật của các cấp Hội.
 
V. Hình thức kiểm tra
- Kiểm tra định kỳ:Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà BCH, BTV, ĐCT cấp trên nghe tổ chức Hội cấp dưới báo cáo hoặc tham dự các hội nghị sơ kết, tổng kết, các buổi sinh hoạt của BCH, BTV cấp dưới và sinh hoạt chi hội. Qua các cuộc đó phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu của cán bộ, hội viên để có biện pháp chỉ đạo tốt hơn. Hình thức này thể hiện tính chủ động, phát huy tác dụng và hiệu quả của công tác kiểm tra. Là hình thức các cấp Hội sử dụng nhiều.
- Kiểm tra chuyên đề: Hình thức này đáp ứng yêu cầu nghiên cứu hoặc một số vấn đề, giúp cho việc đánh giá đúng hoặc tình hình hoặc một mặt công tác. Đối tượng kiểm tra có thể là một số tổ chức Hội cấp dưới hoặc một số cán bộ, hội viên. Nội dung kiểm tra có thể là một hay nhiều vấn đề.
- Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm: Là kiểm tra khi phát hiện thấy những biểu hiện, những hiện tượng mà thông qua đó các cá nhân hay cấp Hội có thể dẫn đến vi phạm hoặc đã vi phạm nhưng chưa được phát hiện, chưa được kết luận. Kiểm tra cấp Hội cùng cấp và cấp dưới khi tổ chức và đoàn viên có dấu hiệu vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của Hội. Trên cơ sở các nguồn tin thu thập được, phân loại tính chất, mức độ quan trọng của dấu hiệu vi phạm để xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra; thành lập đoàn kiểm tra và ra thông báo kiểm tra (các bước tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm vận dụng như trình tự kiểm tra tại mục VI dưới đây).
VI. Trình tự kiểm tra
1. Ban hành kế hoạch kiểm tra
- Trong kế hoạch cần xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng, thời gian, thành phần, yêu cầu chuẩn bị cho cuộc kiểm tra và trình tự tiến hành cuộc kiểm tra, báo cáo BTV và triển khai thực hiện.
 - Thông báo kiểm tra để báo cho đơn vị được kiểm tra có sự chuẩn bị, chủ động bố trí thời gian, địa điểm làm việc, chuẩn bị báo cáo, hồ sơ, tài liệu. Nội dung thông báo kiểm tra phải nêu rõ: Đối tượng kiểm tra, nội dung kiểm tra, thời gian kiểm tra và những yêu cầu cho cuộc kiểm tra. Thông báo kiểm tra phải được gửi trước một thời gian nhất định để tổ chức Hội, hội viên được kiểm tra chuẩn bị (thường là trước 7 - 10 ngày).
2. Tiến hành kiểm tra
- Nghe báo cáo của tổ chức, cá nhân được kiểm tra về các nội dung kiểm tra.
- Trao đổi, thảo luận, làm rõ các vấn đề liên quan tới nội dung cần kiểm tra.
- Thu thập tài liệu, thông tin từ các nguồn khác thông qua: làm việc với các ban, ngành, đoàn thể, cá nhân có liên quan; dự sinh hoạt chi/tổ phụ nữ, gặp gỡ hội viên, phụ nữ, người dân địa phương; thu thập các báo cáo, kế hoạch có liên quan.
3. Kết thúc
- Đoàn kiểm tra dự thảo kết quả kiểm tra, trao đổi, thống nhất với các thành viên trong Đoàn;
- Trưởng đoàn thay mặt đoàn nhận xét, kết luận các nội dung; nghe ý kiến phản hồi từ cấp Hội được kiểm tra và các ý kiến trao đổi, làm rõ thêm các vấn đề liên quan đến nội dung dự thảo kết luận kiểm tra.
- Nội dung kết luận kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, thể hiện rõ ưu điểm, khuyết điểm ở từng nội dung. Những kiến nghị của đoàn kiểm tra với cấp Hội được kiểm tra và kiến nghị của cấp Hội được kiểm tra, của đoàn kiểm tra với Hội cấp trên về khắc phục khuyết điểm và mức độ xử lý kỷ luật (nếu có).
- Đoàn kiểm tra ghi nhận các kiến nghị của cấp Hội được kiểm tra .
- Hoàn thiện kết luận kiểm tra, ban hành báo cáo và lưu hồ sơ (mục này thường chưa làm).
- Ban, đầu mối tham mưu tổ chức kiểm tra giúp BCH, BTV theo dõi, đôn đốc cấp Hội được kiểm tra thực hiện nghiêm chỉnh kết luận và kiến nghị của cuộc kiểm tra; tiến hành kiểm tra lại việc thực hiện kết luận đã kiểm tra.
 
Một số lưu ý trong thực hiện công tác kiểm tra:
* Trong kiểm tra cần chú ý:
- Kiểm tra vấn đề nào phải nắm chắc nội dung các quy định, chủ trương liên quan đến vấn đề đó;
- Vụ việc kiểm tra càng phức tạp, quy trình càng phải đầy đủ và chặt chẽ;
- Trong quá trình kiểm tra, phải thường xuyên, kịp thời xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Hội cùng cấp.
* Qua kiểm tra, cần chú ý:
- Đánh giá được hiệu quả các chủ trương công tác của Hội, chất lượng các hoạt động và phong trào do các cấp Hội chỉ đạo, tổ chức;
- Đề xuất để kịp thời uốn nắn những khuyết điểm, lệch lạc trong việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết ;
- Phát hiện và đề xuất nhân rộng điển hình nhân tố mới;
 
          VII. Tình hình thực hiện công tác kiểm tra trong thời gian qua
- Công tác kiểm tra được thực hiện nghiêm túc, nề nếp. Bộ máy kiểm tra các cấp về cơ bản đã ổn định. Nội dung kiểm tra có chiều sâu, phương pháp kiểm tra có nhiều đổi mới theo hướng tăng cường phát hiện và mang tính hướng dẫn, giúp đỡ cơ sở.
          - Tuy nhiên, ở một số địa phương, số lượng các cuộc kiểm tra nhiều nhưng chất lượng chưa cao. Còn chưa ưu tiên kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý kỷ luật cán bộ nên còn để tình trạng khiếu kiện kéo dài.Hầu hết, sau kiểm tra, các cấp Hội, kể cả TW Hội chưa có thông báo kết quả sau kiểm tra, đối tượng được kiểm tra còn chậm khắc phục những tồn tại, phát hiện được sau kiểm tra. Ít thực hiện hình thức kiểm tra đột xuất do thiếu kỹ năng để nắm bắt dấu hiệu vi phạm. Công tác giải quyết đơn thư thuộc thẩm quyền của Hội đối với một số vụ việc phức tạp và việc thi hành kỷ luật đối với cán bộ còn lúng túng.
         
VIII. Những nội dung cần tập trung đối với công tác kiểm tra năm 2014
Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH TW Hội khoá XI; căn cứ vào nhiệm vụ công tác năm 2014 của BCH TW Hội; để thực hiện tốt nhiệm vụ công tác kiểm tra năm 2014, công tác kiểm tra cần tập trung những nội dung chủ yếu sau:
- Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ các cấp Hội đối với công tác kiểm tra thông qua việc ban hành kế hoạch kiểm tra. Phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra của năm. (Hiện nay TW mới nhận được kế hoạch kiểm tra của 15 tỉnh,thành Hội).
- Quan tâm tập trung kiểm tra theo chuyên đề, trọng tâm năm 2014 là thực hiện kiểm tra theo chủ đề “Năm nâng cao chất lượng cơ sở Hội” trong đó chú trọng kiểm tra về việc thực hiện vai trò, chức trách, nhiệm vụ của cán bộ Hội tại cơ sở (đối với Chủ tịch, Phó chủ tịch, Chi hội trưởng và Tổ trưởng); công tác quản lý, phát triển hội viên và tổ chức sinh hoạt Hội. TW Hội sẽ trực tiếp kiểm tra tại 9 tỉnh, thành Hội theo Kế hoạch số 51/KH – ĐCT ngày 5/3/2014 về triển khai Nghị quyết Ban Chấp hành lần thứ 4 nhiệm vụ xây dựng tổ chức Hội vững mạnh.
- Trong kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Hội: cần chú trọng kiểm tra việc thực hiện các quy trình, nguyên tắc trong kiện toàn nhân sự BCH, BTV, các chức danh chủ chốt, nhất là cấp cơ sở; kiểm tra và hướng dẫn theo dõi thu chi hội phí, quỹ hội và các nguồn thu khác; việc thu nộp, quản lý, sử dụng Hội phí, Quỹ hội.
- Thực hiện nghiêm túc quy trình kiểm tra, đặc biệt là quy trình sau kiểm tra. Đó là phải có thông báo bằng văn bản kết quả kiểm tra; theo dõi việc khắc phục những hạn chế sau kiểm tra.
- Đối với một số tỉnh/thành còn có đơn thư kéo dài thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội, Ban Tổ chức cần chủ động tham mưu BCH, BTV cùng cấp giải quyết dứt điểm không để ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ và tổ chức Hội (1 ví dụ điển hình là trường hợp Lâm Đồng đã để đơn thư kéo dài từ 2011 đến nay, chưa giải quyết được dứt điểm, để kéo dài có đơn thư lên TW quá 1 lần).
          - Hội LHPN các tỉnh, thành cần tiếp tục bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra cho cán bộ làm công tác kiểm tra cùng cấp và cấp dưới, hướng dẫn các nội dung, phương pháp kiểm tra theo chuyên đề. Tăng cường trao đổi, thông tin kinh nghiệm về hoạt động công tác kiểm tra (qua tổng hợp đến cuối năm 2013 chỉ có 6/63 tỉnh, thành có cán bộ làm công tác kiểm tra được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra).
 
IX. Một số vấn đề cần lưu ý từ thực tiễn giải quyết khiếu nại tố cáo và thi hành kỷ luật cán bộ Hội.
Các qui định về việc giải quyết khiếu nại tố cáo và thi hành kỷ luật cán bộ Hội đã được qui định cụ thể trong tài liệu “Hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thi hành kỷ luật trong hệ thống Hội LHPN Việt Nam nhiệm kỳ 2012 – 2017. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, các cấp Hội còn gặp một số khó khăn, vướng  trong qui trình giải quyết khiếu nại, tố cáo và thi hành kỷ luật. Ở Hội nghị này sẽ làm rõ một số nội dung trong 2 qui trình này để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống Hội.
1. Về qui trình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, có một số bước cụ thể cần làm rõ hơn, chi tiết hơn
            1.1. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc để xác định đúng nội dung trong đơn là khiếu nại hay là tố cáo thuộc trách nhiệm hệ thống Hội.
            Hội chỉ giải quyếtnhững đơn thư khiếu nại, tố cáo có nội dung liên quan tới (1) việc chấp Điều lệ Hội, việc  ban hành và thực hiện Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết các kỳ họp Ban Chấp hành, các quy định của tổ chức Hội và (2) việc thi hành kỷ luật tổ chức Hội, cán bộ Hội, hội viên thuộc thẩm quyền xử lý của Hội.
       Hiện nay một số cán bộ thực hiện công tác kiểm tra ở các cấp Hội chưa phân biệt rõ những đơn thư nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội và những đơn thư nào Hội chỉ có trách nhiệm tham gia phối hợp cùng giải quyết.
            1.2 Phân loại đơn khiếu nại, tố cáo và xác định nội dung khiếu nại, tố cáo
            Luật khiếu nại, tố cáo 2011 quy định:
          Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.  
          Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
          Trường hợp tên của đơn lại không thống nhất với nội dung của đơn:  Nếu tên của đơn là “Đơn tố cáo” nhưng thực chất nội dung là “khiếu nại” thì ta giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại và nếu tiêu đề của đơn là “Đơn khiếu nại” nhưng nội dung thực chất là “tố cáo” thì giải quyết theo trình tự, thủ tục của giải quyết tố cáo. 
            Nếu đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì phải tách nội dung khiếu nại để giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại và tách nội dung tố cáo để giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo. Chỉ khi phân loại được chính xác đơn thư, chúng ta mới xác định được đúng trách nhiệm của chúng ta trong việc giải quyết đơn thư.
             1.3 Thu thập thông tin, chứng cứ để xác định sự thật của vụ việc: thu thập những thông tin có giá trị chứng cứ để xác định sự thật của vụ việc như: Nguyên nhân của vụ việc là gì? điều kiện phát sinh vụ việc, trách nhiệm của từng người đến đâu; ai đúng, ai sai? Những yêu cầu cụ thể của người khiếu nại tố cáo là gì?
             1.4 Xây dựng dự kiến: xây dựng được hệ thống những câu hỏi cần hỏi, những nội dung cần được làm sáng tỏ khi gặp đương sự mà trong đơn thư chưa thể hiện rõ.
            1.5. Gặp người khiếu nại, tố cáo để làm rõ nội dung khiếu nại, tố cáo và yêu cầu cụ thể của người khiếu nại, tố cáo. Nội dung trong cuộc “đối thoại”, gặp gỡ này phải được ghi chép vào biên bản có chữ ký của các bên, tránh tình trạng để cho người khiếu nại, tố cáo kể lể tràn lan, dài dòng mà không đi vào các nội dung cụ thể. Đối với mỗi thông tin mà người khiếu nại, tố cáo cung cấp chúng ta đều phải yêu cầu cung cấp chứng cứ rõ ràng….
          2. Về qui trình xử lý kỷ luật cán bộ
Như chúng ta đã biết, cán bộ Hội LHPN Việt Nam, ngoài nhiệm vụ chính là thực hiện các nhiệm vụ của Hội, một số cá nhân còn giữ vai trò là cán bộ công chức và chịu sự quản lý của các tổ chức Đảng.
Do đó, khi cán bộ Hội có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật, cần lưu ý là phải thực hiện xử lý kỷ luật với tư cách là cán bộ công chức trước theo Luật cán bộ, công chức 2008, tiếp đó xử lý kỷ luật với tư cách đảng viên trước rồi sau đó mới xử lý kỷ luật với tư cách là cán bộ Hội  (chủ yếu là theo các hình thức kỷ luật tương ứng).
Tổ chức Hội có cán bộ Hội bị xử lý kỷ luật có quyền gửi công văn yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền, tổ chức Đảng cung cấp các tài liệu có liên quan tới việc xử lý kỷ luật cán bộ Hội và không nhất thiết phải xem xét, xác minh những nội dung, chứng cứ đã được các cơ quan có thẩm quyền làm rõ.
                        Về thành lập Hội đồng kỷ luật:
Đối với kỷ luật cán bộ Hội, người đứng đầu tổ chức Hội có trách nhiệm ra quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật đối với cán bộ Hội có hành vi vi phạm do mình quản lý trực tiếp. Trường hợp người đứng đầu vi phạm thì Ban Thường vụ Hội cấp trên trực tiếp có trách nhiệm ra quyết định thành lập hội đồng kỷ luật.
Theo qui định trong tài liệu Hướng dẫn, Hội đồng kỷ luật bao gồm lãnh đạo Hội cấp trên, đại diện lãnh đạo Đảng ủy cùng cấp (5 hoặc 7 người). Tuy nhiên, tùy vào tình hình thực tế, Hội đồng kỷ luật cũng có thể là 3 người hoặc 5 người.
Chuẩn bị họp
Theo qui định: “Chậm nhất 07 ngày làm việc trước cuộc họp của Hội đồng kỷ luật, giấy triệu tập họp phải được gửi tới tổ chức Hội, cán bộ Hội, hội viên có hành vi vi phạm. Tổ chức Hội, cán bộ Hội, hội viên có hành vi vi phạm vắng mặt phải có lý do chính đáng. Trường hợp vắng mặt sau 02 lần gửi giấy triệu tập thì đến lần thứ 03 sau khi đã gửi giấy triệu tập, nếu tổ chức Hội, cán bộ Hội, hội viên đó vẫn vắng mặt thì Hội đồng kỷ luật vẫn họp xem xét và kiến nghị hình thức kỷ luật
Lưu ý: tuyệt đối không triệu tập họp qua điện thoại. Trường hợp người được triệu tập từ chối tham gia cuộc họp thì phải được lập biên bản có chữ ký của người từ chối hoặc người làm chứng.
                        Trình tự họp.
Theo qui định: “Trường hợp đại diện tổ chức Hội, cán bộ Hội, hội viên có hành vi vi phạm không làm bản tự kiểm điểm thì Hội đồng kỷ luật tiến hành các trình tự còn lại của cuộc họp
Lưu ý: Trường hợp diện tổ chức Hội, cán bộ Hội, hội viên có hành vi vi phạm không làm bản tự kiểm điểm cũng phải được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của người từ chối làm bản kiểm điểm hoặc người làm chứng.
                        Trình tự ra quyết định kỷ luật.
Quyết định kỷ luật phải ghi rõ thời điểm có hiệu lực thi hành, sau 12 tháng kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực, nếu tổ chức Hội, cán bộ Hội, hội viên không tiếp tục có hành vi vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật chấm dứt hiệu lực mà không cần phải có văn bản về việc chấm dứt hiệu lực.
            Lưu ý: Trong quá trình giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo và thi hành kỷ luật cán bộ, Hội cấp trên cần phải giám sát chặt chẽ hoạt động giải quyết khiếu nại tố cáo và thi hành kỷ luật của Hội cấp dưới, thực hiện trao đổi thông tin hai chiều. Hiện nay hai nội dung này không phải là hoạt động thường xuyên, liên tục của các cấp Hội mà chỉ diễn ra khi có đơn thư hoặc có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật, tránh tình trạng Hội cấp trên chỉ nắm tình hình thông qua báo cáo của Hội cấp dưới nên không kịp thời phát hiện những sai sót.
            Trong trường hợp sau khi ra quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo và thi hành kỷ luật mới phát hiện các tình tiết mới làm thay đổi kết quả đã giải quyết (không thuộc trách nhiệm của các cấp Hội) thì tổ chức Hội có quyền hủy kết quả đã giải quyết và tiến hành trình tự thủ tục từ đầu. Ví dụ: Chị Nguyễn Thị A  Chủ tịch Hội LHPN cấp cơ sở có đơn tố cáo đã vi phạm các qui định của Điều lệ Hội. Qua xác minh, Hội LHPN cấp huyện khẳng định hành vi của chị A không vi phạm các qui định của Điều lệ Hội nên không ra quyết định kỷ luật. Tuy nhiên 1 tháng sau đó, đã có những tình tiết mới nên Hội LHPN huyện đã phải hủy kết quả giải quyết trước đó và tiến hành thủ tục từ đầu theo hướng: Chị A có hành vi vi phạm Điều lệ Hội.

  

 

 

 

Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

124 người đã tham gia bình chọn